Bảo hiểm thất nghiệp có vai trò rất lớn không chỉ đối với cá nhân người lao động và doanh nghiệp, mà còn đóng vai trò thăng bằng nền kinh tế, có giá trị ổn định kinh tế - xã hội, là liều thuốc làm “hạ nhiệt” sự căng thẳng xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra, là một trong những công cụ để thực hiện chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia. Đối với các nước phát triển, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp được coi là một công cụ “hấp thụ sốc tự động” cho nền kinh tế; trên thế giới, bảo hiểm thất nghiệp phát triển khi kinh tế thị trường phát triển, thị trường lao động phát triển mạnh thì khả năng rủi ro thất nghiệp lớn.

Người lao động  giao dịch tại TTDVVL Nghệ An

Bảo hiểm thất nghiệp ra đời chính là hướng đến người lao động với mục đích giúp họ có được sự bù đắp về kinh tế nếu xảy ra tình trạng thất nghiệp, yên tâm để ổn định cuộc sống và tiếp tục tìm việc làm mới, phát triển kinh tế cho bản thân, đồng thời đóng góp công sức vào sự phát triển của xã hội. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp cũng giúp người sử dụng lao động không mất chi phí trả thêm cho người lao động khi họ mất việc làm. Ngoài ra, Quỹ BHTN có thể là nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư và phát triển nền kinh tế đất nước, mặc dù chỉ là một phần nhưng đây là nguồn vốn đáng kể để Nhà nước có thể khắc phục những vấn đề xã hội và đầu tư phát triển nhiều hạng mục kinh tế. Đặc biệt, vai trò của bảo hiểm thất nghiệp còn thể hiện ở việc giúp giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia đối với việc hỗ trợ chi phí cho người lao động khi họ thất nghiệp. Đây là cách tốt nhất để sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước vào các mục đích ổn định và phát triển kinh tế xã hội về sau.Có thể nói, vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với cả 3 bên có liên quan là người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước đều rất quan trọng. Đây là chính sách an sinh xã hội có thể phát huy hiệu quả rất lớn trong quá trình hoạt động của mình.

Ở Việt Nam, giai đoạn từ khi thực hiện chủ trương đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến đầu những năm 2000, do đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, đổi mới công nghệ và tác động của các hiệp định song phương, cung lao động vượt quá cầu lao động cùng với sự di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố, tình trạng mất việc làm trở thành một vấn đề bức xúc, ngày 29/6/2006, Quốc hội thông qua Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 trong đó, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện kể từ ngày 01/01/2009; bảo hiểm thất nghiệp gồm 4 chế độ: trợ cấp thất nghiệp, tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề và bảo hiểm y tế. Sau đó, trên cơ sở kế thừa và phát triển chính sách bảo hiểm thất nghiệp quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2006 và kinh nghiệm thực hiện bảo hiểm thất nghiệp/bảo hiểm việc làm tại các nước trên Thế giới, với việc xác định lại mục đích của chính sách bảo hiểm thất nghiệp không chỉ dừng lại hỗ trợ người lao động về thu nhập, kỹ năng khi bị thất nghiệp để mau chóng tìm được việc làm mới mà quan trọng hơn là phải duy trì việc làm, phòng tránh thất nghiệp cho người lao động, tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Việc làm, trong đó, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện từ ngày 01/01/2015 cùng với việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chính sách bảo hiểm thất nghiệp còn bổ sung thêm chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động và cải tiến quy trình tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp.

Sau hơn 11 năm thực hiện, nhất là sau khi chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo Luật Việc làm, bảo hiểm thất nghiệp đã đạt được các kết quả đáng khích lệ, góp phần đảm bảo an sinh xã hội: Nếu năm 2009 mới chỉ có 5,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì đến hết năm 2019, cả nước có 13,4 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm khoảng 27,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; người thất nghiệp đến trung tâm dịch vụ việc làm đều được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; gần 6 triệu lượt người được hưởng trợ cấp thất nghiệp và hơn 190 nghìn người được hỗ trợ học nghề.

Mục đích của bảo hiểm thất nghiệp là ngăn ngừa sự bất ổn định về kinh tế, xã hội; hỗ trợ, đào tạo nhằm giúp người lao động có cơ hội trở lại thị trường lao động, tìm việc làm mới; trợ cấp thất nghiệp và thay thế một phần thu nhập cho người lao động bị mất việc làm mà không phải lỗi của họ. Có thể nhận thấy được vai trò quan trọng và mức độ hiệu quả của bảo hiểm thất nghiệp đối với các nền kinh tế, đặc biệt là trong những giai đoạn khủng hoảng…

Theo Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Trong thời điểm hiện nay, khi Dịch Covid-19 đã và đang tác động lớn đến kinh tế, xã hội của nước ta; nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh phải tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô sản xuất; nhiều người lao động mất việc làm ảnh hưởng tới thu nhập và đời sống thì bảo hiểm thất nghiệp đã thực sự phát huy vai trò, tính ưu việt của mình: Chỉ riêng tháng 3/2020 (tháng cao điểm do ảnh hưởng của đại dịch), cả nước đã có 59.276 người hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng 31%so với cùng kỳ năm 2019, đưa tổng số người hưởng trợ cấp thất nghiệp quý I/2020 lên 132.320 người (tăng 10% so với quý I năm 2019). Tổng chi 3 tháng đầu năm từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho các chế độ bảo hiểm thất nghiệp là 2.744 tỷ đồng, trong đó riêng chi cho trợ cấp thất nghiệp là 2.590 tỷ đồng, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp bình quân là 3,7 triệu đồng/người/tháng. Như vậy, có thể thấy bảo hiểm thất nghiệp thực sự giúp người lao động đảm bảo, duy trì cuộc sống; giúp người sử dụng lao động không bị áp lực về tài chính vì không phải chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động và giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước vì không phải cấp một khoản kinh phí để hỗ trợ cho đối tượng này.

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp có được kết quả như hiện nay là do công tác triển khai được thực hiện đồng bộ, kịp thời và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành có liên quan mà trong đó vai trò của hệ thống Trung tâm Dịch vụ việc làm là hết sức quan trọng. Thông qua việc thực thi chính sách bảo hiểm thất nghiệp, Trung tâm DVVL ngày càng khẳng định vai trò trong việc hỗ trợ người lao động, là công cụ để phát huy đầy đủ chức năng quản trị thị trường lao động của bảo hiểm thất nghiệp. Trong thời gian qua, do ảnh hưởng của đại dịch covid-19 để hạn chế việc tập trung đông người, các Trung tâm đã chủ động thông tin cho người lao động về việc không phải trực tiếp đến trung tâm để thực hiện các thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương người lao động vẫn trực tiếp đến Trung tâm DVVL để thực hiện các giao dịch này, thậm trí tại một số địa phương, tại một số thời điểm người lao động còn đến nhiều hơn so với thời gian trước (vd: Hà Nội, Đà Nẵng...). Người lao động trực tiếp đến với Trung tâm DVVL không chỉ làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp mà họ còn mong muốn được Trung tâm DVVL tư vấn, giới thiệu việc làm cho mình. Để hỗ trợ tốt nhất cho người lao động, các Trung tâm DVVL vừa đảm bảo các yêu cầu về phòng chống dịch, vừa phải bố trí cán bộ thường trực để đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người lao động. Bên cạnh đó, các Trung tâm DVVL đẩy mạnh hoạt động thu thập thông tin về thị trường lao động để nắm bắt, cập nhật tình hình biến động lao động, khai thác vị trí việc làm trống nhằm phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động và cung cấp thông tin về thị trường lao động cho người sử dụng lao động, góp phần điều tiết thị trường lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp.

Để phát huy vai trò của bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian tới, cần có những giải pháp để sử dụng hiệu quả Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, ngoài việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động, đào tạo cần phải tăng cường chi cho việc thực hiện các nhiệm vụ thu thập thông tin thị trường lao động, khai thác vị trí việc làm trống để đẩy mạnh nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề cho người lao động. Về lâu dài, cần hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướng mở rộng diện bao phủ tham gia, nhất là người lao động trong khu vực phi chính thức, bổ sung các biện pháp hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động trong suốt quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp để chính sách bảo hiểm thất nghiệp thực sự là công cụ quản trị thị trường lao động./.

Trường Sơn